Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 2/2017 ước đạt 402.705 tấn , với giá trị đạt 170,8 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2017 lên 738.153 tấn, tương đương 314,2 triệu USD (giảm 23,4% về khối lượng và giảm 24,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016).

Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2017 với 35% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này đạt 242.361 tấn tương đương 112,8 triệu USD (tăng 51% về khối lượng và tăng 57,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016).

Philippines - thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ hai của Việt Nam với 28% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này 2 tháng đầu năm 2017 đạt 206.589 tấn, tương đương 78 triệu USD (tăng 54% về khối lượng và tăng 36% về giá trị so với cùng kỳ).

Đứng sau 2 thị trường chủ đạo trên là các thị trường như: Bờ biển Ngà (39.989 tấn, tương đương 17,4 triệu USD); Malaysia (30.248 tấn, tương đương 11,8 triệu USD); Gana (19.520 tấn, tương đương 9,7 triệu USD); Singapore (10.575 tấn, tương  đương 5,2 triệu USD).

Trong 2 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo sang 2 thị trường chủ đạo là Trung Quốc và Philippines vẫn tăng trưởng mạnh, nhưng xuất khẩu sang phần lớn các  thị trường khác đều bị sụt giảm, vì vậy làm cho tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước giảm mạnh.

Xuất khẩu gạo sụt giảm mạnh do tác động kép từ việc thị trường nhập khẩu lớn nhất là Trung Quốc đề ra tiêu chuẩn nhập khẩu gạo từ các nước ASEAN, đã làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này giảm mạnh, cùng với việc Thái Lan thực hiện xả kho hàng tồn kho gạo đã làm giảm giá gạo thế giới.

Tại hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới diễn ra tại TP.HCM, nhằm chia sẻ những thuận lợi, khó khăn của doanh nghiệp khi xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tới đây Bộ sẽ sang Trung Quốc để thảo luận về vấn đề xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Quốc. Thị trường Trung Quốc lâu nay được cho là một thị trường dễ tính, nhưng đến nay quan niệm này không còn phù hợp, vì vậy doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng nông sản nói chung, gạo nói riêng cần chú ý đối với thị trường Trung Quốc nếu không muốn gặp khó khăn.

Đáng chú ý, trong khi xuất khẩu gạo sang đa số các thị trường giảm mạnh, thì xuất khẩu sang Nga lại tăng vọt tới 5.235% về lượng và tăng 3.365% về kim ngạch so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, xuất sang Ucraina cũng tăng 3553% về lượng và tăng 3483% về kim ngạch; Chi Lê tăng 1448,70% về lượng và tăng 859% về kim ngạch.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2017

Thị trường

2T/2017

+/-(%) 2T/2017 so với cùng kỳ

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

738.153

314.239.454

-23,35

-24,65

Trung Quốc

242.361

112.764.790

+50,82

+57,63

Philippines

206.589

78.009.762

+53,66

+36,07

Bờ biển Ngà

39.989

17.372.888

+9,66

-15,09

Malaysia

30.248

11.760.705

-31,86

-39,74

Gana

19.520

9.742.156

-63,50

-63,16

Singapore

10.575

5.217.043

-32,28

-34,86

Hồng Kông

8.077

3.948.292

-43,93

-47,29

I rắc

7.523

3.125.035

*

*

Tiểu vương QuốcẢRập thống nhất

7.005

3.546.005

+29,91

+26,45

Brunei

5.901

2.325.230

+151,11

+107,12

Angieri

5.145

2.033.710

+297,60

+330,38

Hoa Kỳ

3.298

1.854.291

-43,65

-41,26

Nga

2.774

1.034.041

+5234,62

+3364,70

Angola

2.270

836.529

-42,20

-47,90

Ucraina

1.863

755.342

+3552,94

+3482,88

Chi Lê

1.781

664.443

+1448,70

+858,83

Nam Phi

1.502

579.846

-29,08

-28,59

Australia

1.470

778.714

+26,72

+10,95

Đài Loan

1.338

696.970

-72,74

-68,39

Hà Lan

806

363.554

-40,74

-42,70

Senegal

309

173.720

*

*

Ba Lan

308

149.655

-52,76

-51,72

Pháp

82

76.445

+110,26

+147,92