Năng lượng: Giá dầu tăng trong phiên cuối tuần, nhưng giảm nhẹ trong cả tuần
Giá dầu thô thế giới tăng trong phiên giao dịch cuối tuần, lấy lại những gì đã mất của phiên trước đó, do đồng USD giảm khích lệ hoạt động mua vào, nhưng các nhà đầu tư vẫn thận trọng sau số liệu cho thấy sản lượng của Nga vẫn duy trì ở mức như tháng trước, cho thấy độ tuân thủ thấp trong cam kết cắt giảm sản lượng toàn cầu.
Dầu thô Brent chuẩn trên sàn London tăng 36 US cent trong phiên cuối tuần, lên 55,44 USD/thùng, hồi phục một phàn của mức giảm hơn 2% trong phiên trrước đó. Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 36 US cent lên 52,97 USD. Tuy nhiên tính chung cả tuần cả 2 loại dầu đều giảm giá.
“Thị trường hồi phục mạnh, điều này không có gì ngạc nhiên bởi sau khi bán mạnh thì các nhà đầu tư thường mua mạnh trở lại, nhất là khi USD giảm giá”, nhà phân tích cấp cao Tamas Varga thuộc hãng môi giới PVM Oil Associates ở London cho biết.
USD đã giảm khỏi mức cao kỷ lục 7 tuần trong phiên trước đó, trước bài phát biểu của Chủ tịch Fed Janet Yellen.
Sản lượng dầu của Nga tháng 2 vẫn tương tự như tháng 1, ở mức 11,11 triệu thùng/ngày, số liệu từ Bộ Năng lượng nước này cho biết. Mức giảm so với tháng 10/2016 vẫn là 100.000 thùng/ngày, tức là chỉ bằng 1/3 cam kết của Moscow với Tổ chức các nước XK dầu mỏ (OPEC) về việc cùng nhau cắt giảm sản lượng. Trong khi đó, Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak nhận định vẫn còn quá sớm để bàn về việc liệu thỏa thuận giảm sản lượng dầu sẽ được tiếp tục thực hiện sau tháng 6/2017 hay không.
Số liệu chính thức từ Mỹ cho thấy tồn trữ dầu thô nước này tăng tuần thứ 8 liên tiếp, lên kỷ lục cao 520,2 triệu thùng trong tuần qua.
Song mặc dù sản lượng của Mỹ tăng và của Nga vững, OPEC vẫn giữ vững cam kết với mức tuân thủ thoả thuận lên tới 94%.
Theo BMI Research, một số yếu tố mang tính kỹ thuật có thể đưa giá dầu Brent hướng tới mức 60 USD/thùng.
Kim loại quý: Giá trong tuần giảm do khả năng Fed nâng lãi suất trong tháng 3
Giá vàng giảm hơn một nửa % trong phiên giao dịch cuối tuần, và tính chung cả tuần đã giảm mạnh nhất gần 4 tháng do đồn đoán gia tăng về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nâng lãi suất trong tháng 3 này.
Giá vàng giao ngay giảm 0,5% xuống 1.228,05 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 4 giảm 4,5 USD xuống 1.228,40 USD/ounce.
Trước sức bật của giá vàng thế giới, giá vàng miếng trong nước cũng quay đầu tăng giá. Tính đến 10h30 sáng nay, giá vàng miếng SJC tại TP.HCM niêm yết ở mức 36,65-36,90 triệu đồng/lượng, tăng 80.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán so với giá chốt phiên chiều qua.
Khảo sát cho thấy có tới 80% khả năng Fed sẽ nâng lãi suất trong tháng 3 này. Tỷ lệ này cách đây 2 tuần chỉ là 20%. Vàng rất nhạy cảm với động thái của Fed về lãi suất.
Trong bài phát biểu đêm qua (theo giờ địa phương) với các doanh nghiệp, bà Yellen, Chủ tịch FED nhấn mạnh: “Tại cuộc họp tới đây, Ủy ban sẽ đánh giá liệu việc làm và lạm phát có tiếp tục tăng trưởng theo như kì vọng của chúng tôi hay không, nếu có thì việc tăng lãi suất quỹ liên bang là thích hợp”. Bà cũng cho biết thêm: “Tiến trình thu hẹp việc nới lỏng tiền tệ sẽ không chậm như các năm 2015 và 2016”. Thông báo trên là dấu hiệu rõ ràng cho thấy Fed sẽ tăng lãi suất tại hội nghị chính sách của cơ quan này diễn ra trong 2 ngày 14-15/3 tới.
Chuyên gia giao dịch Sam Laughlin thuộc tập đoàn MKS PAMP cho biết, khả năng Mỹ nâng lãi suất đang ngày một tăng và nhân tố này sẽ chặn đứng bất cứ đà tăng nào của giá vàng trước cuộc họp chính sách trong tháng Ba của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Tuy nhiên, vẫn còn những dự báo lạc quan về giá vàng. Mới đây ngân hàng ABN Amro của Hà Lan đã nâng dự báo giá vàng tính đến cuối năm 2017 thêm 200 USD, lên mức 1.300 USD/ounce.
Commerzbank cũng nhận định nhà đầu tư sẽ tích cực mua vàng trong những tháng tới do những bất ổn kinh tế và chính trị ở cả 2 bờ của Đại Tây Dương, nói rằng bất kì sự giảm giá nào cũng có khả năng bị hạn chế. Khoảng 55 tấn vàng đã đổ vào các quỹ giao dịch trong 2 tháng đầu năm do bất ổn chính trị gia tăng ở Mỹ và châu Âu, Commerzbank cho biết.
Ngân hàng Đức vào thứ Năm đã điều chỉnh tăng dự báo giá vàng nửa đầu năm lên $1250/oz và duy trì mức hết năm là $1300/oz.
“Tổng thống Trump gây nên những bất ổn với các chính sách của ông ấy”, ngân hàng này nói. “Ở châu Âu, các cuộc bầu cử quan trọng diễn ra ở một số nước lớn có thể đặt Liên minh châu Âu EU và khu vực eurozone vào một cuộc thử nghiệm. Ngoài ra, các cuộc đàm phán “li hôn” của Anh và EU nên được bắt đầu sớm. Bởi vậy, chúng tôi thấy vàng được hỗ trợ tốt mặc cho kì vọng tăng lãi suất của Mỹ”.
Trong trường hợp của nước Mỹ, Commerzbank đã trích dẫn những lo ngại về chủ nghĩa bảo hộ và biệt lập dưới thời Tổng thống Trump. Trong khi đó, có tiềm năng cho các đảng “anti” EU giành được lợi thế ở một số quốc gia châu Âu, và cuộc khủng hoảng nợ của Hi Lạp được giương lên lần nữa.
Comerzbank gợi ý rằng tiềm năng phát triển cho bạc “đã hết” sau khi vị thế ròng dài hạn, hay vị thế tăng giá của các nhà đầu cơ gần đây tăng gấp đôi kể từ cuối năm 2016 và chỉ thấp hơn 20% so với mức kỉ lục đạt được từ tháng 7 năm ngoái. Ngược lại, vị thế ròng dài hạn của vàng vẫn là 70% dưới mức kỉ lục của nó.
Tuy nhiên, Commerzbank cho biết, “bạc nên “giữ nhịp” tăng với vàng. Chúng tôi xác nhận dự báo cuối năm là $19/oz đối với bạc”.
Kim loại cơ bản: Giá đồng vững, ảnh hưởng từ 2 yếu tố cung khan và triển vọng USD tăng
Giá đồng tăng trong phiên giao dịch cuối tuần nhưng tính chung cả tuần gần như không thay đổi trong bối cảnh USD tăng giá bởi dự báo Fed sắp nâng lãi suất.
USD tăng giá thường tác động tiêu cực tới giá đồng. Tuy nhiên, lo ngại về nguồn cung đang hậu thuẫn kim loại này.
Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,2% xuống 5.918 USD/tấn, tính chung cả tuần giảm nhẹ 0,1%. Ngày 13/2 giá đồng đã ở mức cao nhất 20 tháng là 6.204 USD/tấn.
Trong số các kim loại cơ bản, giá nickel tăng mạnh nhất, tăng 1,5% trong phiên cuối tuần lên 10.940 USD/tấn.
Nông sản: Robusta giảm giá do áp lực bán ra, giá đường cũng giảm
Giá cà phê robusta trong phiên giao dịch cuối tuần giảm do áp lực bán mạnh tại Việt Nam.
Robusta giao tháng 5 giá giảm 17 USD hay 0,77% so với phiên trước, xuống 2.198 USD/tấn, sau khi tăng mạnh 3,1% trong phiên trước đó. Arabica giao cùng kỳ hạn giảm 0,15 US cent hay 0,10% xuống 1,44 USD/lb.
Giá đường giảm bởi dấu hiệu cho thấy Ấn Độ có thể chỉ cần nhập khẩu ít đường hơn so với dự kiến.
Đường thô giao tháng 5 giảm 0,16 USD so với phiên trước, tương đương 0,81% xuống 19,50 US cent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 5 cũng giảm 2,6 USD hay 0,48% xuống 541 USD/tấn.
Khoảng 107 nhà máy đường ở Uttar Pradesh (bang sản xuất mía lớn của Ấn Độ) vẫn ép mía tới tận cuối tháng 2, với sản lượng tăng 17%, Hiệp hội Mía đường Ấn Độ cho biết.

Tuy nhiên, mức cộng của hợp đồng giao tháng 8 so với tháng 7 đã tăng lên trên 105 USD/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 11/2016.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 25/2

Giá 4/3

Giá 4/3 so với 3/3

Giá 4/3 so với 3/3 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,99

53,33

+0,72

+1,37%

Dầu Brent

USD/thùng

55,99

55,90

+0,82

+1,49%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.290,00

38.700,00

+370,00

+0,97%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,63

2,83

+0,02

+0,82%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

151,48

165,31

+0,98

+0,60%

Dầu đốt

US cent/gallon

164,04

159,36

+1,45

+0,92%

Dầu khí

USD/tấn

496,75

487,00

0,00

0,00%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.320,00

48.440,00

+250,00

+0,52%

Vàng New York

USD/ounce

1.258,30

1.226,50

-6,40

-0,52%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.512,00

4.501,00

+1,00

+0,02%

Bạc New York

USD/ounce

18,41

17,74

-0,01

-0,05%

Bạc TOCOM

JPY/g

66,00

65,70

+0,90

+1,39%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.027,50

1,003.33

+17.89

+1.77%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

771,48

777.59

-2.87

-0.37%

Đồng New York

US cent/lb

269,60

269,65

+0,60

+0,22%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.928,00

5.917,00

-13,00

-0,22%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.885,00

1.892,00

-19,00

-0,99%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.829,00

2.775,00

-7,00

-0,25%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.150,00

19.500,00

+150,00

+0,78%

Ngô

US cent/bushel

370,75

380,75

+1,25

+0,33%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

448,00

453,50

+0,75

+0,17%

Lúa mạch

US cent/bushel

250,00

242,25

+4,00

+1,68%

Gạo thô

USD/cwt

9,68

9,59

-0,03

-0,36%

Đậu tương

US cent/bushel

1.024,25

1.037,50

+0,25

+0,02%

Khô đậu tương

USD/tấn

335,70

333,00

-1,80

-0,54%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,67

34,38

+0,25

+0,73%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

516,70

532,60

+4,20

+0,79%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.994,00

1.955,00

+27,00

+1,40%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

146,25

143,30

-1,05

-0,73%

Đường thô

US cent/lb

19,81

19,52

-0,14

-0,71%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

172,05

168,45

+4,25

+2,59%

Bông

US cent/lb

76,57

77,99

+1,21

+1,58%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

379,60

370,60

+0,20

+0,05%

Cao su TOCOM

JPY/kg

279,50

279,90

+7,00

+2,57%

Ethanol CME

USD/gallon

1,53

1,51

+0,01

+0,46%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg