Năng lượng: Giá dầu tăng mạnh do những dấu hiệu cho thấy nguồn cung dầu sẽ tiếp tục bị thắt chặt: lượng dầu dự trữ của Mỹ tăng ít hơn dự đoán, hoạt động sản xuất dầu ở Libya tiếp tục gián đoạn và khả năng thỏa thuận cắt giảm sản lượng do Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dẫn dắt sẽ được gia hạn.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu Brent Biển Bắc tại London tăng 1,09 USD, hay 2,1%, lên 52,42 USD/thùng, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 1,14 USD (hay 2,4%) lên 49,51 USD/thùng. Giá dầu thô Mỹ tăng lên gần mức cao nhất trong hai tuần qua sau khi Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA) cho biết lượng dầu dự trữ của nước này tăng 867.000 thùng hồi tuần trước, gần như chỉ bằng một nửa con số dự đoán, và giới phân tích cho rằng đà tăng trong lượng dầu dự trữ của Mỹ sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.
Giá xăng cũng tăng lên mức cao nhất trong ba tuần sau khi số liệu của EIA cho thấy lượng xăng dự trữ của Mỹ giảm 3,7 triệu thùng hồi tuần trước, nhiều hơn mức dự đoán.
Một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters cho thấy sản lượng của cả 13 nước thành viên OPEC đã giảm 230.000 thùng/ngày trong tháng Ba so với số liệu đã được điều chỉnh lại của tháng Hai, cho thấy khối này đã tuân thủ 95% thỏa thuận cắt giảm.
Bộ trưởng dầu mỏ Iran Bijan Zanganeh ngày 28/3 cho biết OPEC và các nước sản xuất dầu khác có thể sẽ gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng đã đạt được trước đó.
Tổng Công ty dầu mỏ quốc gia Libya ngày 28/3 công bố tình trạng bất khả kháng sau khi hoạt động sản xuất dầu tại các mỏ Sharara và Wafa ở phía tây nước này đã bị ảnh hưởng bởi các phe phái vũ trang, dẫn đến sản lượng giảm khoảng 252.000 thùng/ngày.
Kim loại quý: Giá vàng tăng nhẹ trong bối cảnh bất ổn có thể phát sinh từ các cuộc đàm phán về Brexit, cuộc bầu cử ở Pháp và các chính sách kinh tế của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã làm tăng hoạt động mua các tài sản an toàn như kim loại quý.
Giá vàng giao ngay tăng 0,05% lên 1.252,2 USD/ounce; vàng giao sau giảm 0,2% xuống 1.253,7 USD/ounce. Trong số các kim loại quý khác, giá palađi giảm 0,7% xuống 786,75 USD/ounce sau khi tăng chạm mức cao trong hai năm là 815,4 USD/ounce trong phiên cuối tuần trước; giá bạc tăng 0,2% lên 18,19 USD/ounce; bạch kim tăng 0,3% lên 949,35 USD/ounce.
Các thông tin bên lề quanh kế hoạch tăng lãi suất của FED không còn đủ sức kìm chế đà tăng của giá vàng bởi tác động giảm đã ảnh hưởng tới giá vàng thời gian dài trước đó, thậm chí, chỉ cần manh nha tin đồn về bất cứ khả năng giữ nguyên hay giảm lãi suất sẽ tác động mạnh vào sự tăng vọt đột biến của kim loại quý. Khả năng tăng tiếp trong tuần này khá cao.
Tại Mỹ, số đơn xin bảo hiểm thất nghiệp tăng lên 261.000 đơn, cao hơn mức dự kiến là 240.000 đơn và 246.000 đơn thực tế kỳ trước, thông tin xấu về thị trường lao động.
Việc thông qua dự luật chăm sóc sức khỏe thay thế Obamacare của Tổng thống Mỹ mới đắc cử Donald Trum thất bại khiến nhà đầu tư mất niềm tin các chương trình thúc đẩy kinh tế của ông.
Kim loại cơ bản: Giá nhôm cao nhất gần 2 năm bởi lạc quan về Trung Quốc – quốc gia sẽ thực hiện kế hoạch giảm cung, trong bối cảnh giá dầu tăng.
Nhôm giao sau 3 tháng trên sàn London giá tăng 0,8% lên 1.960 USD/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 5/2015.
Nông sản: Giá đường xuống mức thấp nhất 10 tháng
Giá đường thô kỳ hạn giao sau giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 10 tháng do hoạt động bán tháo mang tính kỹ thuật.
Đường thô giao tháng 5 giá giảm 0,44 US cent hay 2,5% xuống 17,12 US cent/lb. Trong phiên có lúc giá xuống chỉ 17 US cent, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 5.
Đường trắng giao tháng 5 giá giảm 10 USD hay 2% xuống 485,30 USD/tấn.
Các nhà phân tích dự báo giá đường sẽ còn tiếp tục giảm khi vụ ép mía của Brazil dang tới gần với sản lượng dự báo sẽ cao bởi sản xuất đường mang lại lợi nhuận nhiều hơn so với ethanol.
Tuy nhiên, vụ mùa ở Australia bị ảnh hưởng bởi thời tiết sẽ ngăn giá giảm mạnh.
Với cà phê, giá arabia tăng 0,45 US cent hay 0,3% lên 1,393 USD/lb, trong khi robusta giao tháng 5 giá tăng 3 USD hay 0,1% lên 2.171 USD/tấn.
Xuất khẩu cà phê Việt Nam ước tính giảm 1,6% trong quý đầu năm.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,51

+1,14

+2,4%

Dầu Brent

USD/thùng

52,42

+1,09

+2,1%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.830,00

+610,00

+1,73%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,22

-0,01

-0,34%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

167,00

-0,20

-0,12%

Dầu đốt

US cent/gallon

154,01

-0,24

-0,16%

Dầu khí

USD/tấn

464,75

+1,00

+0,22%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.400,00

+820,00

+1,76%

Vàng New York

USD/ounce

1.253,00

+3,80

+0,30%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.466,00

+13,00

+0,29%

Bạc New York

USD/ounce

18,18

-0,07

-0,39%

Bạc TOCOM

JPY/g

64,90

+0,70

+1,09%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

959,43

+5,23

+0,55%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

789,71

-2,29

-0,29%

Đồng New York

US cent/lb

267,25

-0,50

-0,19%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.907,00

+34,00

+0,58%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.960,00

+16,00

+0,82%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.858,00

+35,00

+1,24%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.175,00

+140,00

+0,70%

Ngô

US cent/bushel

358,50

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

425,00

-0,50

-0,12%

Lúa mạch

US cent/bushel

229,00

-2,25

-0,97%

Gạo thô

USD/cwt

9,90

+0,03

+0,30%

Đậu tương

US cent/bushel

965,75

-3,25

-0,34%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,00

-0,80

-0,25%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,14

-0,07

-0,22%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

494,40

+0,60

+0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.086,00

-43,00

-2,02%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

139,30

+0,45

+0,32%

Đường thô

US cent/lb

17,12

-0,44

-2,51%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

168,75

-1,75

-1,03%

Bông

US cent/lb

76,17

+0,03

+0,04%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

369,20

0,00

0,00%

Cao su TOCOM

JPY/kg

243,20

-0,80

-0,33%

Ethanol CME

USD/gallon

1,62

+0,03

+1,70%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg