Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng nhẹ do lo ngại căng thẳng địa chính trị leo thang.
Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 tăng 0,35 USD lên 68,05 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn tăng 0,14 USD lên 74 USD/thùng.
Cung cấp cắt giảm, tăng trưởng nhu cầu ổn định, căng thẳng địa chính trị và một cơ cấu thuận lợi trên thị trường kỳ hạn đã thu hút đầu tư kỷ lục vào dầu trong năm nay.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron Trong chuyến thăm Washington phát biểu rằng thỏa thuận hạt nhân quốc tế với Iran chưa hoàn chỉnh nhưng hiện vẫn phải duy trì cho đến khi thay thế. Ông Trump sẽ quyết định trước ngày 12/5 liệu có nên khôi phục các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Tehran hay không, đây có thể là bước đầu tiên để chấm dứt thỏa thuận này.
Thị trường dầu cũng được hỗ trợ bởi những lo ngại về sản lượng của Venezuela.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết lượng dầu thô dự trữ của Mỹ đã tăng 2,2 triệu thùng lên 429,7 triệu thùng trong tuần trước, vượt xa kỳ vọng tăng 1,1 triệu thùng của các nhà phân tích. Cũng trong tuần trước, dự trữ xăng của Mỹ tăng thêm 800.000 thùng. Trong khi đó, theo EIA, sản lượng dầu thô tính theo hàng tuần của Mỹ tăng lên gần 10,6 triệu thùng/ngày, tăng hơn 25% kể từ giữa năm 2016. Xuất khẩu dầu thô và khí ngưng của Mỹ sang châu Âu dự kiến sẽ đạt mức cao kỷ lục khoảng 550.000 thùng/ngày trong tháng 4, theo các chương trình vận tải, và các thương gia kỳ vọng tốc độ kỷ lục này sẽ tiếp tục trong năm nay khi dầu của Mỹ ngày càng phổ biến với các nhà máy lọc dầu Châu Âu, thường không có lợi khi mua dầu từ các nước OPEC và Nga. Theo giám sát thương mại tại Thomson Reuters Eikon, trong 4 tháng đầu năm nay, xuất khẩu dầu thô và khí ngưng của Mỹ sang châu Âu đã tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2017, tới 68 tàu chở dầu lớn Aframax. Năm 2017, châu Âu chiếm 7% tổng xuất khẩu dầu của Mỹ, nhưng tỷ lệ này đã tăng nhanh lên mức 12% trong năm nay.
Một số nhà phân tích cho rằng thời gian nguồn cung dư thừa bắt đầu từ năm 2014 giờ đã kết thúc do sự gián đoạn về nguồn cung và nhu cầu tăng khá mạnh. Việc tăng chi phí vay của chính phủ Mỹ lên mức cao nhất kể từ năm 2013 trong tuần này đã khiến một số nhà đầu tư lo ngại rủi ro, nhưng các nhà phân tích cho rằng giá dầu thô Brent kỳ hạn có thể tăng lên mức đỉnh mới 2018 trên 75 USD/thùng.
Tuy nhiên, sự gia tăng lãi suất trái phiếu Mỹ trên 3% đã khiến USD tăng chạm mức cao nhất trong ba tháng, khiến dầu đắt hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác. Điều này có thể gây áp lực giá dầu thô, mặc dù dầu và USD đã di chuyển song song trong vài tuần qua.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất 5 tuần do USD và lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng sau các số liệu tích cực tại Mỹ và dấu hiệu giảm bớt căng thẳng xung đột thương mại Mỹ-Trung. Giá vàng giao tháng 6 giảm 10,20 USD hay 0,77% còn 1322,80 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ giữa tháng 1/2018; vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.330,84 USD/ounce. Chỉ số USD, thước đo của USD so với rổ tiền tệ lớn khác, đã tăng 0,39% lên 91,15.
Nhưng lãi suất trái phiếu cao hơn lại làm cho vàng trở thành kênh đầu tư kém hấp dẫn do lợi nhuận thấp hơn.Trong khi đó, những rủi ro về chính trị đã bớt căng thẳng sau khi Mỹ cho biết sẽ có thể đạt được thỏa thuận thương mại với Trung Quốc và các quan chức từ cả hai bên sẽ ngồi lại với nhau để đàm phán trong một vài ngày.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 5 giảm 20,1 cent, tương đương 1,20%, xuống 16,50 USD/ounce. Giá bạch kim giao tháng 7 giảm 22,3 USD, tương đương 2,39%, đóng cửa ở mức 912,7 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 giảm 1,65 US cent tương đương 1,4% xuống 1,188 USD/lb, chịu áp lực bởi đồng real Brazil giảm so với USD. Robusta giao cùng kỳ hạn cũng giảm 22 USD tương đương 1,2% xuống 1.760 USD/tấn.
Đường cũng tiếp tục giảm giá, với đường thô giao tháng 7 giảm 0,26 cent, tương đương 2,3%, ở mức 11,12 cent/lb, sau khi giảm xuống còn 10,93 cent, mức thấp nhất kể từ tháng 10/2008, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 12,20 USD tương đương 3,8% xuống 312,30 sau khi có lúc giảm xuống 311,40 USD, thấp nhất kể từ tháng 12/2008 do cung vượt cầu trong bối cảnh sản xuất tăng ở Ấn Độ và Thái Lan. Đồng real Brazil yếu càng tạo thêm áp lực giảm giá, các nhà sản xuất có khả tăng tăng bán với giá tính theo đồng USD vì hấp dẫn hơn là tính theo đồng tiền địa phương.
Vùng trung nam Brazil sản xuất 714.000 tấn đường trong nửa đầu tháng 4/2018, so với 173.000 tấn trong hai tuần trước đó, tập đoàn ngành mía Unica cho biết. Các nhà máy trong vành đai mía chính ở Brazil đã ép 22.214 triệu tấn mía trong giai đoạn này so với 7.758 triệu tấn trong nửa cuối tháng trước, Unica cho biết.
Diện tích trồng mía đường của Trung Quốc dự kiến tăng 5% trong năm 2018 đạt
1,6 triệu ha, theo hãng tư vấn hàng hóa Trung Quốc Zhuochuang. Nguyên nhân tăng diện tích trồng là do giá đường ổn định trong 2 năm qua và người nông dân thu được trung bình 600 NDT (95,17 USD) và 800 NDT/mu (1 mu =0,066 ha). Giá đường không dự kiến thay đổi mạnh trong năm nay. Trung Quốc là một trong những nước nhập khẩu đường lớn trên thế giới song đã đặt một loạt các biện pháp cắt giảm nhập khẩu và hỗ trợ người nông dân trong vài năm qua.
Mức thuế chống bán phá giá khổng lồ được tính vào doanh nghiệp xuất khẩu đường hàng đầu Brazil trong năm ngoái đã hỗ trợ giá trong nước (1 đô la = 6.3048 NDT).
Mặt hàng cao su giá tăng nhẹ do hoạt động mua vào mang tính kỹ thuật và đồng yên yếu so với USD. Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 9 tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo đã tăng 0,6% vào lúc đóng cửa phiên giao dịch đạt 188,2 yen (1,7 USD)/kg. Cao su tại Tokyo cách đây một tháng đã từng giảm xuống mức thấp nhất 17 tháng trong bối cảnh lo ngại nguồn cung dư thừa tại châu Á. Giá hợp đồng cao su giao tháng 9 trên sàn Thượng Hải kết thúc phiên vừa qua tăng 55 NDT lên mức 11.605 NDT (1.836 USD)/tấn.
Dự trữ cao su thô tại các cảng Nhật Bản đứng ở mức 16.357 tấn vào ngày 10/4, theo số liệu từ Hiệp hội Thương mại Cao su Nhật Bản.
So với đồng yên, USD đã tăng gần mức cao nhất hai tháng là 109,20 yên trong phiên trước đó. Đồng yên yếu làm cho tài sản tính bằng đồng yên có giá trị thấp hơn khi mua bằng các loại tiền tệ khác.
Thị trường cao su Malaysia tăng giá chốt phiên giao dịch nhờ giá dầu thô hồi phục. Tuy nhiên, lo ngại về dự trữ cao đã hạn chế mức tăng.
Nhiều nhà phân tích cho rằng xu hướng sụt giảm trên thị trường dầu mỏ đã bắt đầu từ năm 2014 và sẽ kết thúc vào thời điểm hiện nay. Giá sẽ tăng bền vững do nguồn cung bị gián đoạn và nhu cầu mạnh, đặc biệt tại châu Á.
Chốt phiên giao dịch, giá lốp SMR 20 tại Sở giao dịch Cao su Malaysia tăng thêm 2,5 sen lên 536,5 sen/kg, trong khi giá mu cao su giảm 12 sen còn 437 sen/kg.
Giá hợp đồng cao su giao dịch gần nhất trên sàn SICOM của Singapore giao tháng 5 chốt phiên giao dịch đạt mức 139,3 cent Mỹ/kg, giảm 0,5 cent.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,05

+0,35

+0,47%

Dầu Brent

USD/thùng

74,00

+0,14

+0,42%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.720,00

+570,00

+1,24%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,79

+0,00

+0,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

209,69

+0,72

+0,34%

Dầu đốt

US cent/gallon

214,71

+1,11

+0,52%

Dầu khí

USD/tấn

648,50

+5,00

+0,78%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

63.040,00

+710,00

+1,14%

Vàng New York

USD/ounce

1.324,90

-2,10

-0,16%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.642,00

+6,00

+0,13%

Bạc New York

USD/ounce

16,63

+0,05

+0,32%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,10

-0,20

-0,34%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

913,32

+2,22

+0,24%

Palladium giao ngay

USD/ounce

978,02

-0,77

-0,08%

Đồng New York

US cent/lb

315,80

+0,05

+0,02%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.008,00

-5,00

-0,07%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.245,00

+18,00

+0,81%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.135,00

-77,00

-2,40%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.250,00

+150,00

+0,71%

Ngô

US cent/bushel

395,50

-0,25

-0,06%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

502,75

+3,75

+0,75%

Lúa mạch

US cent/bushel

229,75

+1,00

+0,44%

Gạo thô

USD/cwt

13,25

+0,03

+0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

1.043,25

+4,00

+0,38%

Khô đậu tương

USD/tấn

382,80

+2,30

+0,60%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,06

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

534,00

-1,00

-0,19%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.836,00

+21,00

+0,75%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

118,80

-1,65

-1,37%

Đường thô

US cent/lb

11,12

-0,26

-2,28%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

148,85

+0,85

+0,57%

Bông

US cent/lb

83,97

+0,03

+0,04%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

545,40

+0,40

+0,07%

Cao su TOCOM

JPY/kg

187,50

-0,70

-0,37%

Ethanol CME

USD/gallon

1,47

+0,01

+0,55%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg