Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm xuống mức thấp nhất 4 tháng bởi nhà đầu tư lo ngại về tình trạng dự trữ dầu quá cao ở Mỹ làm lu mờ những thành quả cố gắng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) trong việc cắt giảm sản lượng.
Đóng cửa phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York kỳ hạn giao kỳ hạn tháng 5/2017 giảm 34 US cent xuống 47,70 USD/thùng; dầu Brent trên sàn London giao cùng kỳ hạn giảm 8 US cent xuống 50,56 USD/thùng.
Trong phiên trước đó, giá dầu Brent đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối tháng 11/2016 khi giao dịch ở mức 49,71 USD/thùng.
Các thành viên OPEC đã nghiêm túc thực hiện cam kết cắt giảm sản lượng khai thác dầu mỏ. Nhưng các thành viên ngoài OPEC vẫn chưa thực hiện đầy đủ cam kết cắt giảm sản lượng và các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ đã tăng cường khai thác sau khi giá dầu thô phục hồi khá nhanh từ mức dưới 30 USD/thùng của năm ngoái.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết dự trữ dầu thô ở Mỹ, nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới, tăng 5 triệu thùng lên mức kỷ lục 533 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 17/3.
Đó là chưa kể nhập khẩu dầu thô của Mỹ từ Saudi Arabia bất ngờ tăng thêm 200.000 thùng/ngày lên 1,28 triệu thùng/ngày, sau khi giảm mạnh trong tuần trước đó.
Một quan chức thuộc Bộ Năng lượng Saudi Arabia, nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất OPEC, dự báo xuất khẩu dầu thô của nước này sang Mỹ trong tháng Ba sẽ giảm khoảng 300.000 thùng/ngày so với tháng trước đó, theo thỏa thuận cắt giảm nguồn cung của OPEC.
Các nước thành viên trong và ngoài OPEC sẽ nhóm họp tại Kuwait cuối tuần này để thảo luận việc tuân thủ cam kết cắt giảm sản lượng khai thác dầu mỏ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do USD hồi phục trong khi palađi lênmức cao nhất 2 năm bởi số liệu kinh tế và nhu cầu từ ngành ô tô tích cực.
Vàng giao ngay giá giảm 0,3% xuống 1.245,26 USD/ounce, trong khi vàng giao sau giảm 0,3% xuống 1.246,60 USD/ounce.
Tuy nhiên do tăng mạnh trong mấy phiên trước nên vàng đang hướng đến tuần tăng giá sau khi đã tăng 2,4% trong tuần trước.
Phân tích kỹ thuật cho thấy, xu hướng tăng giá trong ngắn hạn áp đảo với ngưỡng kháng cự gần nhất là đỉnh cao tuần này (1.251,5 USD/ounce rồi đến 1.260 USD/ounce); ngưỡng hỗ trợ gần nhất là: 1.240 USD/ounce và sau đó là 1.235 USD/ounce.
Chỉ số đồng ICE Dollar, chỉ số đo biến động của đồng USD so với 6 loại tiền tệ lớn của thế giới, tăng nhẹ lên mức 99,75 điểm. Dù tăng nhưng chỉ số vẫn ở khá gần với mức thấp nhất trong 7 tuần.
Số liệu mới công bố cho thấy trong tuần qua có thêm 15 nghìn người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu. Tổng số người đang nhận trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tăng lên mức 258 nghìn, cao nhất trong 2 tháng. Trong khi đó, thị trường nhà đất Mỹ vẫn đón nhận tin tích cực. Doanh số bán nhà xây mới trong tháng Hai tăng lên mức cao nhất trong 7 tháng.
Biến động tỷ giá đồng USD có nguyên nhân trực tiếp từ những bất ổn chính trị nội tại nước Mỹ. Khi mà chính phủ mới không thể thông qua dự luật cải tổ ngành y tế, các mục tiêu chính sách khác của họ cũng sẽ bị trì hoãn.
Theo đúng kế hoạch, trong ngày 23/3, các chính trị gia trong Hạ viện Mỹ bỏ phiếu để thông qua dự luật cải tổ ngành y tế mới do Tổng thống Mỹ Donald Trump đưa ra, dự luật này dự kiến sẽ thay thế cho chương trình Obamacare dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama. Tuy nhiên, việc bỏ phiếu này đã được lùi sang ngày 24/3, nếu việc bỏ phiếu không suôn sẻ, nó sẽ phát đi tín hiệu không mấy tích cực về khả năng thực hiện cam kết khi tranh cử Tổng thống của ông Donald Trump.
Trưởng bộ phận phân tích thị trường tại quỹ Commonwealth Foreign Exchange, ông Omer Esiner, nhận định về dài hạn, đồng USD sẽ vẫn tăng giá bởi chính phủ Mỹ giữ nguyên định hướng thắt chặt chính sách tiền tệ.
Trên thị trường nông sản, gía đường hồi phục từ mức thấp nhất 10 tháng, cà phê tiếp tục giảm nhẹ.
Đường thô giao tháng 5 trên sàn New York tăng 0,3 US cent hay 1,73% lên 17,6 US cent/lb. Trong phiên có lúc giá xuống 17,02 US cent, thấp nhất tính từ tháng 5/2016. Nguyên nhân bởi hoạt động bán ra mạnh, triển vọng san lượng tăng ở Brazil và giảm hy vọng về khả năng Ấn Độ nhập khẩu.
Đường trắng giao tháng 5 giá tăng 10,5 USD hay 2,15% lên 498,8 USD/tấn.
Nhập khẩu đường vào Trung Quốc, nước nhập khẩu lớn nhất thế giới, tăng 70,3% trong tháng 2 so với 1 năm trước đó lên 180.000 tấn, theo số liệu của Hải quan nước này.
Với cà phê, giá arabica giao tháng 5 giảm 1,2 US cent hay 0,85% xuống 1,405 USD/lb, trong khi đó robusta giao tháng 5 giảm 1 USD hay 0,05% xuống 2.163 USD/tấn.
Các thương gia cho biết nguồn cung arabica tăng nhờ sản lượng tăng ở Colombia và một số nơi khác thuộc Trung Mỹ, song thị trường robusta vẫn khan hiếm, nhất là ở Brazil.
Cuộc mở thầu mua cà phê robusta của Brazil đã thất bại, không ký được hợp đồng nào.
Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam tuần này trầm lắng, trong bối cảnh nguồn cung hạn hẹp nhất là loại chất lượng cao, trong khi giao dịch ở Indonesia khá sôi động khi nguồn cung tăng.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

47,70

-0,34

-0,25%

Dầu Brent

USD/thùng

50,56

-0,08

-0,20%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

34.590,00

-320,00

-0,92%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,04

-0,01

-0,23%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

159,19

+0,23

+0,14%

Dầu đốt

US cent/gallon

149,25

+0,24

+0,16%

Dầu khí

USD/tấn

449,50

-0,75

-0,17%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

44.340,00

-250,00

-0,56%

Vàng New York

USD/ounce

1.247,40

-2,70

-0,22%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.440,00

-7,00

-0,16%

Bạc New York

USD/ounce

17,59

0,00

-0,02%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,40

+0,20

+0,32%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

958,15

-4,35

-0,45%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

800,14

-1,79

-0,22%

Đồng New York

US cent/lb

264,80

+0,35

+0,13%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.825,00

+17,00

+0,29%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.933,50

+11,50

+0,60%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.814,00

-42,50

-1,49%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.275,00

-165,00

-0,81%

Ngô

US cent/bushel

356,75

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

421,75

+0,75

+0,18%

Lúa mạch

US cent/bushel

248,00

-3,50

-1,39%

Gạo thô

USD/cwt

9,83

-0,02

-0,20%

Đậu tương

US cent/bushel

989,25

-1,75

-0,18%

Khô đậu tương

USD/tấn

320,00

-0,70

-0,22%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,14

-0,08

-0,24%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

489,50

+1,20

+0,25%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.176,00

+11,00

+0,51%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

140,50

-1,20

-0,85%

Đường thô

US cent/lb

17,60

+0,30

+1,73%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

185,15

-3,85

-2,04%

Bông

US cent/lb

77,27

-0,07

-0,09%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

376,70

+3,40

+0,91%

Cao su TOCOM

JPY/kg

249,40

-0,60

-0,24%

Ethanol CME

USD/gallon

1,55

0,00

-0,13%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg