Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau khi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) hạ thấp dự báo về sản lượng dầu thô của Mỹ trong hai năm 2019 và 2020.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 4/2019 tăng 9 UScent tương đương 0,1% lên 56,67 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 5/2019 tại thị trường London tăng 9 UScent tương đương 0,1% lên 66,67 USD/thùng.
Theo báo cáo Triển vọng Năng lượng ngắn hạn công bố ngày 12/3 của EIA, các mức dự báo trên thấp hơn các con số ước tính về sản lượng dầu thô của Mỹ trong hai năm 2019 và 2020 mà cơ quan này đưa ra hồi tháng 2/2019.
EIA dự báo sản lượng dầu thô của Mỹ trung bình ở mức 12,3 triệu thùng/ngày trong năm 2019 và 13 triệu thùng/ngày trong năm 2020, trong đó hầu hết mức tăng sản lượng đến từ khu vực Permian thuộc Texas và New Mexico.
Ngoài ra, EIA cũng ước tính sản lượng dầu thô của Mỹ trung bình ở mức 11,9 triệu thùng/ngày trong tháng 2/2019, giảm nhẹ so với mức trung bình của tháng 1/2019.
Đồng thời, EIA cũng hạ dự báo về tăng trưởng nhu cầu dầu thô thế giới năm 2019 xuống 1,45 triệu thùng mỗi ngày, tức là thấp hơn 40.000 thùng so với con số đưa ra trước đây.
Bên cạnh đó, Saudi Arabia thông báo sẽ tự nguyện giảm nguồn cung trong tháng 4/2019 nhiều hơn cam kết. Cụ thể, sẽ giữ sản lượng dầu thô dưới 10 triệu thùng/ngày (mức cam kết là 10,311 triệu thùng). Các Tiểu Vương quốc Arập thống nhất cũng vừa cho biết sản lượng trong tháng 2/2019 vượt mục tiêu cắt giảm, cụ thể là đạt 119% mục tiêu về giảm sản lượng.
Trong khi đó, Công ty dầu mỏ quốc doanh Venezuela, PDVSA, chưa thể khôi phục xuất khẩu dầu thô từ cảng chính của nước này kể từ sau vụ mất điện tại đây trong tuần vừa qua.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng do USD yếu đi và bất ổn gia tăng về việc Anh ra khỏi Liên minh châu Âu (EU) (Brexit).
Kết thúc phiên, vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.298,63 USD/ounce, trong khi vàng kỳ hạn tăng 0,5% lên 1.297,7 USD/ounce.
Quốc hội Anh một lần nữa bác bỏ thỏa thuận Brexit mà Thủ tướng Theresa May đề xuất, sau khi đã có quyết định tương tự hồi tháng Một. Sự bất ổn gia tăng về cách thức mà Anh ra khỏi EU đã đẩy giá vàng lên trong giao dịch điện tử sau đó.
Chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng tiền này so với sáu đồng tiền mạnh, giảm hơn 0,2%, xuống dưới 97 trong phiên này sau khi Mỹ công bố chỉ số giá tiêu dùng của nước này tháng 2/2019 tăng lần đầu tiên trong vòng 4 tháng. Tuy nhiên, mức tăng (do theo năm) lại thấp nhất trong vòng 2,5 năm.
Diễn biến của giá vàng và đồng bạc xanh thường có xu hướng ngược chiều nhau. Khi đồng USD giảm, giá vàng kỳ hạn sẽ tăng, bởi vàng được định giá theo đồng tiền này sẽ trở nên đắt hơn với những nhà đầu tư mua bằng các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim tăng 1,2% lên 834,55 USD/ounce, bạc tăng 0,6% lên 15,14 USD/ounce (trong phiên có lúc đạt mức cao nhất kể từ 1/3/2019).
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng loạt tăng. Kẽmđồng đều có lúc chạm mức cao nhất 7 tháng do thiếu cung trong bối cảnh lượng lưu kho ở sàn London sụt giảm và dự báo nhu cầu của Trung Quốc sẽ tăng lên.
Trên sàn London (LME), kẽm tăng 3,7% và kết thúc ở 2.838 USD/tấn, sau khi có lúc chạm 2.840 USD/tấn – mức cao nhất kể từ ngày 3/7/2018. Tính từ đầu năm tới nay giá kẽm đã tăng thêm khoảng 15%. Lượng lưu kho ở LME giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 1 thập kỷ (59.200 tấn, mức thấp chưa từng có kể từ tháng 10/2007), và khiến cho giá của những hợp đồng giao gần tăng mạnh. Các mỏ bắt đầu tăng sản xuất quặng kẽm nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu.
Tập đoàn Nghiên cứu về Chì và Kẽm quốc tế (ILZSG) cho biết mức thiếu hụt kẽm trên thị trường trong tháng 1/2019 giảm còn 28.000 tấn, so với thiếu 62.400 tấn ở tháng 12/2018. Thị trường kẽm đã thiếu cung nhiều năm liền: năm 2016 thiếu 128.000 tấn, 2017 thiếu 442.000 tấn và 2018 thiếu 384.000 tấn.
Đồng đóng cửa tăng 1% lên 6.472 USD/tấn, và trước đó trong cùng phiên có lúc cũng gần đạt mức cao nhất kể từ 25/2/2019 là 6.540 USD/tấn. Lượng đồng lưu kho ở LME hiện là 112.725 tấn, thấp nhất kể từ tháng 5/2008.
Các kim loại cơ bản khác cũng đồng loạt đi lên. Nhôm tăng 1,4% lên 1.873 USD/tấn, nickel tăng 1,6% lên 13.100 USD/tấn, chì tăng 0,5% lên 2.085 USD/tấn, và thiếc tăng 1,3% lên 21.325 USD/tấn.
Giá sắt và thép trên thị trường Trung Quốc tăng trong phiên vừa qua bởi dự đoán hoạt động xây dựng của nước này sẽ sôi động trở lại kéo nhu cầu thép tăng theo.
Thép cây trên sàn Thượng Hải trong phiên có lúc tăng 2,5% lên 3.820 CNY (568,88 USD)/tấn, trước khi kết thúc phiên ở 3.815 CNY. Như vậy đây là phiên giá tăng mạnh nhất trong vòng 4 tuần. Thép cuộn cán nóng cũng tăng 2,4% lên 3.776 CNY/tấn. Quặng sắt trên sàn Đại Liên cũng tăng 1,9% lên 612,5 CNY/tấn.
Theo nhà phân tích Richard Lu thuộc công ty CRU ở Bắc Kinh, nhu cầu đối với các sản phẩm thép tấm lúc này rất mạnh bởi một số hoạt động mua tích trữ, trong bối cảnh tồn kho sụt giảm.
Giá thép cây hợp đồng tham chiếu đã giảm 10% kể từ khi đạt mức cao nhất 5 tháng vào ngày 11/2/2019 (3.856 CNY) do tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chậm lại và lo ngại cuộc chiến thương mại với Mỹ sẽ càng ảnh hưởng tới triển vọng nhu cầu thép.
Trên thị trường nông sản, giá lúa mì trên thị trường Châu Âu vừa giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 9 tháng theo xu hướng giá trên thị trường quốc tế trong phiên liền trước giữa bối cảnh các thương gia đang chờ đợi kết quả phiên đấu thầu của Algeria với hy vọng sẽ thúc đẩy nhu cầu mạnh lên.
Lúa mì xát vỏ kỳ hạn giao tháng 5/2019 trên sàn Euronext (tại Paris) giảm 1,5% xuống 181 euro/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc xuống chỉ 182 euro – thấp nhất kể từ 19/6/2018.
Tuy nhiên, lúa mì Mỹ tăng 5,5% trong phiên vừa qua do hoạt động mua mang tính kỹ thuật sau phiên bán tháo trước đó và bởi giá giảm thấp kích thích các nhà đầu tư. Lúa mì đỏ mềm vụ Đông trên sàn Chicago tăng 23-3/4 UScent lên 4,52-1/4 USD/bushel. Đây là mức tăng trong 1 phiên mạnh nhất kể từ 25/7/2018.
Giá cà phê arabica kỳ hạn giao tháng 5/2019 trên sàn New York giảm 1,2 UScent tương đương 1,2% xuống 96 UScent/lb vào cuối phiên, trước đó có lúc chỉ 94,65 Uscent – thấp nhất (đối với hợp đồng giao sau 2 tháng) kể từ tháng 12/2005. Nguyên nhân bởi dư cung trên toàn cầu, nhất là tại Brazil. Robusta giảm 7 USD tương đương 0,5% xuống 1.525 USD/tấn.
Giá dầu cọ trên thị trường Malaysia giảm trở lại trong phiên vừa qua do thị trường thiếu xu hướng. Dầu cọ giao tháng 3/2019 trên sàn Bursa (Malaysia) giảm 0,14% xuống 2.116 ringgit (518,37 USD)/tấn vào cuối phiên, mặc dù đầu phiên đạt 2.140 ringgit (nhờ ảnh hưởng từ giá dầu cao ở phiên liền trước).
Dầu đậu tương trên sàn Đại Liên (Trung Quốc) kỳ hạn tháng 5/2019 cũng giảm gần 1%, trong khi dầu cọ giao cùng kỳ hạn giảm 0,3%.
Giá cao su trên sàn Tokyo tăng trong phiên vừa qua do chứng khoán thế giới phiên liền trước đi lên mạnh mẽ khiến các nhà đầu tư chuyển hướng sang những tài sản có nhiều rủi ro.
Cao su kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 2 JPY tương đương 1% lên 199,2 JPY (1,79 USD)/kg. Trên sàn Thượng Hải, hợp đồng cao su giao tháng 5 cũng tăng 20 CNY lên 12.165 CNY (1.813 USD)/tấn. Chỉ số chứng khoán Nikkei của Nhật tăng lên mức cao nhất trong vòng 6 ngày gần đây sau khi chứng khoán phố Wall cũng như tại các thị trường Châu Á khác tăng mạnh, còn đông yen thì mất giá.
Giá bông tăng khá mạnh lên mức cao nhất gần 3 tháng do các nhà đầu tư mua mạnh vì dự báo có thể Mỹ và Trung Quốc sẽ đạt được thỏa thuận về thương mại. Đồng USD yếu đi cũng góp phần hỗ trợ giá tăng.
Bông giao tháng 5/2019 trên sàn New York tăng 1,65 UScent tương đương 2,25% lên 74,85 UScent/lb, hợp đồng giao sau 1 tháng đạt 75 UScent, cao nhất kể từ 21/12/2018.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

57,67

+0,09

+0,1%

Dầu Brent

USD/thùng

66,67

+0,09

+0,14%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.150,00

-30,00

-0,07%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,80

+0,01

+0,40%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

182,52

+0,97

+0,53%

Dầu đốt

US cent/gallon

198,75

+0,18

+0,09%

Dầu khí

USD/tấn

608,00

-3,00

-0,49%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.920,00

+30,00

+0,05%

Vàng New York

USD/ounce

1.301,10

+3,00

+0,23%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.648,00

+21,00

+0,45%

Bạc New York

USD/ounce

15,45

+0,03

+0,21%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,20

+0,20

+0,36%

Bạch kim

USD/ounce

834,84

-0,51

-0,06%

Palađi

USD/ounce

1.538,08

-0,83

-0,05%

Đồng New York

US cent/lb

293,15

+0,30

+0,10%

Đồng LME

USD/tấn

6.407,00

+12,00

+0,19%

Nhôm LME

USD/tấn

1.847,00

-25,00

-1,34%

Kẽm LME

USD/tấn

2.738,00

+27,00

+1,00%

Thiếc LME

USD/tấn

21.050,00

-325,00

-1,52%

Ngô

US cent/bushel

365,75

+3,75

+1,04%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

453,00

+24,50

+5,72%

Lúa mạch

US cent/bushel

268,00

+5,50

+2,10%

Gạo thô

USD/cwt

10,74

+0,02

+0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

897,00

+7,00

+0,79%

Khô đậu tương

USD/tấn

303,00

+1,70

+0,56%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,99

+0,35

+1,18%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

458,30

+2,50

+0,55%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.217,00

+15,00

+0,68%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

96,00

-1,20

-1,23%

Đường thô

US cent/lb

12,33

+0,04

+0,33%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

123,50

+4,55

+3,83%

Bông

US cent/lb

74,85

+1,65

+2,25%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

399,30

-12,50

-3,04%

Cao su TOCOM

JPY/kg

200,50

+1,30

+0,65%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

+0,02

+1,39%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF